CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT GIÁO

Lama Ole NidahlLAMA OLE NYDAHL: Tôi rất vui vì có thể nói chuyện trước các bạn và tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi rất quan tâm đến hội nghị này. Hình thức chia sẻ như thế này thường tạo ra những giá trị to lớn. Vào cuối những năm 70, tôi có mặt ở một hội nghị với qui mô tương tự ở Santa Cruz, California, nói về một lĩnh vực khác là một trong những cảm xúc mạnh mẽ của con người: cái chết. Trong khi tại đây, Basel, Tiến sĩ Hofmann được mời thuyết trình. Ở Santa Cruz có hai nhà tâm lý học nằm trong danh sách những diễn giả đã làm cho phát minh của Dr. Hofmann trở nên rất nổi tiếng đó là Richard Alpert và Timothy Leary. Tại hội nghị đó tôi đóng góp quan điểm Phật giáo Tây tạng về cái chết và cụ thể là về cách thực hành Phowa (Cái chết có ý thức), với cách đó một người có thể can thiệp một cách có ý thức vào quá trình của cái chết. Ngay sau hội nghị, các phong trào tế bần và cái gọi là Thanalogy (hỗ trợ con người trong tiến trình chết) nổi lên. Santa Cruz cho thấy rằng nếu có 2000 người quan tâm đến lĩnh vực khoa học cùng tham gia để chia sẽ nghiên cứu, nó có thể thực sự tạo nên một sự khác biệt trong cái cách chủ đề được nhận thức và xử lý.

Hôm nay, những giấc mơ của Lothar Riedel đã đưa chúng ta đến với nhau. Và tôi có thể thấy rất rõ rằng điều đó giống như là sự cởi mở của chúng ta tại Californaia đã đưa chúng ta tới với những hiểu biết mới mẻ sâu sắc về cái chết, tại đây chúng ta có thể nâng tầm và phát triển những ý tưởng của chúng ta về hạnh phúc để mang lại lợi ích cho nhiều người. Để tỏ lòng tôn kính thành quả của Lothar Riedel và bạn bè của ông, chúng ta sẽ cùng nỗ lực để duy trì sự chân thật, tươi mới và cởi mở. Mong là chúng ta có thể dùng thời gian của chúng ta ở đây một cách có ý nghĩa.

Giờ thì, Phật giáo đã nói gì về hạnh phúc? Bài viết của Dr. Hofmann đã có phần chạm đến lĩnh vực này. Tôi muốn mở rộng nó từ quan điểm của người theo Phật giáo Tây Tạng (Tiếng Sanskit – Yogi)

Về cơ bản, Phật giáo phân biệt giữa niềm hạnh phúc tối cao và niềm hạnh phúc tương đối. Hạnh phúc tương đối được tạo lên từ sự trải nghiệm thế giới bên ngoài, niềm hạnh phúc tối cao có được từ những trải nghiệm của tâm thức. Nếu chúng ta nhìn vào thế giới bên ngoài, những công xưởng, đường phố, nhà cửa, xe cộ, chúng ta thấy rằng tất cả những thứ đó đều được tạo ra với mục đích tạo ra một vài dạng trải nghiệm của sự hạnh phúc. Những tổ chức như bệnh viện và nhà tù được tạo ra theo một cách khác là tránh đi những tình trạng đau khổ nhất định. Một sự hiển nhiên là chúng ta cố gắng một cách liên tục để tạo ra cái gì đó ở thế giới bên ngoài nhằm mang lại sự thoải mái cho chúng ta. Nhưng không phải những ngôi nhà, xe cộ hoặc những cảnh quan đẹp đẽ đó là trải nghiệm hạnh phúc; hạnh phúc thật ra chỉ là tâm thức của chúng ta. Tâm thức của ta chính là nhìn thông qua mắt ta, nghe thông qua tai ta và trải nghiệm tất cả mọi thứ. Tâm thức chính là nơi mọi thứ xảy ra.

Do đó, nỗ lực tạo nên hạnh phúc trên cơ sở những điều kiện bên ngoài là không đáng tin cậy. Mỗi nỗ lực để đạt được hạnh phúc với những thứ thuộc thế giới bên ngoài của chúng ta giống như là việc đẩy một vật ra xa với một cây gậy dài và đã bị lung lay; điều đó chỉ không mang lại hiệu quả tốt. Tại thời điểm này, tình yêu này có thể là tuyệt vời, nhưng khi vào ngày tiếp theo, một ai đó khác có thể làm chúng ta hạnh phúc hơn. Cảnh tượng bao lao mà chúng ta hưởng thụ ngày hôm qua trở nên không còn ý nghĩa vào hôm nay khi chúng ta đau đầu. Mọi nỗ lực để trải nghiệm hạnh phúc thông qua những thứ có điều kiện và hữu vi, (những thứ tạo ra sự phản hồi thích thú trong tâm thức của chúng ta) sẽ thất bại hết lần này qua lần khác; đặc biệt là vào thời khắc của cái chết. Người Đan Mạch nói rằng, “chiếc áo cuối cùng không có túi”; chúng ta không thể mang theo bất cứ cái gì cùng với chúng ta và do đó, điều quan trọng nhất là giá trị vĩnh cửu. Chính vì thế mà chúng ta nên dùng thời gian của chúng ta một cách hiệu quả để tìm ra những nguyên nhân tạo nên niềm hạnh phúc tối cao và vĩnh cửu. Tất cả những gì được thay đổi, tạo nên hoặc sinh ra là sự tổng hợp các thành phần và có tính chất phụ thuộc và do đó sẽ lại tan rã. Những người không biết phẩm chất vô hạn của tâm họ, sẽ phải trải nghiệm ba dạng đau khổ: sự hoàn thiện, sự đau khổ khi mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp, bệnh hiểm nghèo, một nửa gia đình hoặc bạn bè chết. Không có sự vui thú nào nữa, mọi thứ tan rã, và trở thành đau khổ, bi thảm, đầy kịch tính hoặc tất cả những thứ này đến cùng một lúc.

Dạng đau khổ thứ hai thường bị nhầm lẫn với hạnh phúc. Sự vô thường ngụ ý rằng mọi thứ luôn thay đổi. Một người hưởng thụ những điều tốt đẹp xung quanh đến khi người đó cố nắm giữ chúng ở lại với họ, việc này đương nhiên là không hiệu quả. Cuối cùng mọi thứ đều biến mất và không gì có thể được giữ lại. 

Cuối cùng, dạng đau khổ thứ ba xuất hiện rất khó để nhận ra bởi vì một người quá bận rộn với hai dạng đầu tiên. Thực tế là tâm thức của một người thì hầu như là bị che phủ. Chúng ta khó có thể nhớ về ngày hôm qua, kí ức của chúng ta về tuần trước thì rất mờ nhạt và chúng ta cũng không biết tương lai sẽ mang đến những gì.

Ba dạng đau khổ này đặt gánh nặng lên chúng ta cho đến khi chúng ta nhận ra chúng và sẵn sàng thay thế những thứ tạm bợ, sự chia ly, cái chết hoặc mất tích bằng những giá trị có thể tin tưởng tuyệt đối.

Vậy thì điều gì có thể được tin tưởng trong thế giới này? Chúng ta không thể tin tưởng vào sự tồn tại cũng như sự không tồn tại. Những phần nhỏ nhất của một nguyên tử biến mất trong không gian trong khi những phần khác xuất hiện dường như không do bất kỳ nguyên nhân bên ngoài nào, nó làm cho cả những người theo chủ nghĩa duy vật lẫn duy tâm lung lay. Những gì họ muốn chứng minh không thể được tìm thấy và do đó, phải được xem xét cả hai mặt của cùng một tổng thể. Không có thứ gì là có thật ở đây hay ở kia để cho họ nắm bắt cả. “Vạn vật” chúng ta lại thấy biến mất và nếu chúng ta cố giữ không gian trống rỗng, nó sẽ tự lấp đầy. Trong trường hợp này, chúng ta có thể tin tưởng gì vào thế giới bên trong cũng như bên ngoài? Chúng ta có thể xây dựng gì trên đó?

Hiển nhiên, chỉ có một thứ chúng ta có thể tuyệt đối tin tưởng: những khả năng của không gian. Không gian thì hơn cả những gì thông thường trong suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta có thường xuyên biết một người nào đó gọi mình trước khi nghe giọng của họ? Chúng ta có thường xuyên nhận được thư của ai đó ngay sau khi chúng ta nghĩ về họ? Trong những khoảnh khắc như vậy, chúng ta không nghe thấy hoặc nhìn thấy tốt hơn so với những lúc khác, nhưng đó là khoảnh khắc chúng ta quên đi sự chia cắt chúng ta khỏi cái tổng thể. Chúng ta đơn giảnchỉ là có mặt ở đó, cởi mở và thư giãn trong những gì đang diễn ra. Trong những khoảnh khắc như vậy chúng ta không chỉ trải nghiệm thông qua mắt và tai của chúng ta mà còn thông qua sự dao động của mỗi phân tử trong cơ thể chúng ta. Do không gian và năng lượng bên trong chúng ta không bị phân chia với bên ngoài, mà là sự diễn tả của cùng một tổng thể, chúng ta luôn được kết nối với mọi thứ.

Trong Phật giáo đây gọi là thể tính chân thực (Pháp thân); Dharmakaya trong tiếng Phạn và choku trong Tiếng Tạng. Một mặt, nó nghĩa là mọi thứ là một phần trong cái tổng thể, mặt khác, không gian là một cái bình chứa. Không gian không được hiểu như là sự chia cắt hoặc như là một lỗ đen. Ở một cấp độ thực tế nhận biết được khoảng cách là điều quan trọng. Ví dụ như để tồn tại được, một người phải đánh giá được khoảng cách đến răng nanh của con hổ đói, hoặc ngày nay là khoảng cách đến chiếc xe tải trên đường – những người không thể ước lượng khoảng cách thì không thể tồn tại. Đó là lý do tại sao ngày nay chúng ta không thoải mái với ý tưởng diễn tả không gian như là thứ gì đó hợp nhất. Nhưng thử tưởng tượng rằng chúng ta không có mắt ở trước mặt mà cả ở phía sau đầu: rõ ràng rằng có nhiều không gian ở phía sau và xung quanh con người hơn là giữa họ. Nếu chúng ta ý thức được những không gian tuyệt vời giữa các mặt trời thì thậm chí nước Úc cũng đột nhiên trở nên rất gần. Tôi khuyến thích thái độ này bởi vì nó quan trọng để hiểu không gian như sự hợp nhất, sống động, như một nơi chứa đựng tồn tại trung gian giữa mọi vật.

Một người có thể trải nghiệm nhiều hơn nếu họ thôi ngồi trong cái hộp nhỏ của những ý tưởng hạn hẹp của mình và thay vào đó là mở ra với thế giới và tìm kiếm những gì khả thi. Một người khám phá rằng bản thân không gian là niềm hạnh phúc. Một người tạo nên những điều kiện cho một buổi tối tuyệt vời bằng cách chọn bạn đồng hành thích hợp và để cho những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong cuộc sống đến như là những món quà. Những khoảnh khắc là đó là khi một người quên đi bản thân mình, đó là những khoảnh khắc khi tất cả những chia cắt ngưng lại trong vòng tay của người yêu thương, là khi chúng ta chỉ cảm nhận được ánh sáng, những khoảnh khắc vĩnh cửu của sự hợp nhất. Lúc này, niềm vui bất tận của tâm thức chúng ta, niềm hạnh phúc từ nó hiện ra, và nó xuất hiện khi chúng ta nghỉ ngơi ở ở tầm mức cao hơn cả hi vọng và sợ hãi trong sự phong phú của tâm thức chúng ta. Trải nghiệm này là không thể tách rời khỏi không gian; đó là niềm hạnh phúc của không gian và đầy thuyết phục. Do đó không gian không chỉ là tuệ giác đồng thể hiện và hàm chứa kiến thức mà là hạnh phúc từ trong bản chất tự nhiên của nó. Đó là niềm vui, sự phong phú, hãy để mọi thứ xảy ra và chỉ trải nghiệm chính nó thông qua điều. Cuối cùng, không gian là không giới hạn, nó không là gì ngoài chất lượng của tình yêu. 

Nói về tình yêu thương, tôi không có ý nói đến dạng ở nơi một người Phương Tây từ một xã hội phát triển cao, tổ chức tốt giúp đỡ người nghèo và người bệnh ở những nơi kém phát triển của thế giới. Điều đó cũng hữu ích, đặc biệt là nó được thực hiện lâu dài. Nhưng những gì thực sự làm nên một sự khác biệt là nơi một người trải nghiệm tình yêu trong cách họ nhận thức rằng ước mong của một người cho hạnh phúc của những người khác. Nó quá rõ ràng rằng tất cả nhân loại đều muốn có hạnh phúc và tránh đau khổ. Tuy thế mà vẫn có nhiều người sống trong những điều kiện khó khăn nhất. Ngày nay thế giới của những người nghèo ngột ngạt bởi sự tăng dân số quá mức mà không có chất lượng cuộc sống, chúng ta không nên giúp trong ngắn hạn, mà nên trong dài hạn. Chỉ bán vũ khí cho họ mà không bán bao cao su, như chúng ta đang làm, là không có ý nghĩa. Thay vào đó chúng ta nên nghiêm túc quan tâm kết nốt việc hỗ trợ vật chất để hạn chế sự gia tăng dân số; không thì sẽ có nhiều đau khổ về sau.

Điều đó chúng ta phải nghĩ 50 hoặc 100 năm tới trong tương lai khi việc mang lại lợi lạc cho người khác không làm thay đổi bất cứ điều gì. Thực tế, cảm giác của tình yêu tự phát đó là một biểu hiện quý giá khác của không gian. Nó chỉ có nghĩa rằng những thách thức lớn hơn của ngày hôm nay buộc chúng ta phải thông minh hơn và quan tâm nhiều hơn đến tương lai.

Tình yêu không phân biệt này xuất hiện trong khoảnh khắc nơi một người trải nghiệm sự hợp nhất với toàn thể chúng sinh. Nó là trạng thái của tâm thức mà Phật giáp Đại Thừa nhấn mạnh.

Đặc biệt là, ba pháp môn cổ xưa của Tây Tạng – cùng được gọi là Kim Cương Thừa (Cả ba pháp môn này cùng coi trọng việc thiền tập) đều cùng muốn hiện thực hóa sự trải nghiệm này. Những gì đạt được ở đây là sự nhận thức – là cái nhìn qua mắt của chúng ta, nghe qua tai của chúng ta, và ngụ tại ánh sáng trong lành và cũng đồng thời là bản chất của nó. Ánh sáng này không giống như những ánh đèn phía trên đầu chúng ta, ánh sáng của tâm thức chúng ta không xuất hiện bên ngoài. Nó là trạng thái vĩnh hằng của sự trong sáng – của “bây giờ và ở đây” – nơi mà trong mỗi khoảnh khắc, trí tuệ biểu hiện cũng với chính sự trải nghiệm. Một âm “Aha” cùng với tất cả mọi trải nghiệm chính là đích đến.

Một người chỉ có thể hoàn toàn hiểu được điều này bằng cách nhìn vào cái người mà người đó thật sự là. Làm như vậy, một người nhận ra rằng một người không thể chỉ là cái thể xác này. Cơ thể mập rồi ốm, sinh ra rồi chết đi, và trong trong lúc sống thì luôn luôn thay đổi. Những gì luôn thay đổi không thể là tồn tại vĩnh cửu. Việc khám phá rằng một người không chỉ là thể xác của người đó, trước tiên, là điều kì diệu, nhưng thực tế, đó là một sự giải thoát lớn lao. Có ai muốn mình là một thứ sẽ dần dần già nua, bệnh tật và chết? Rõ ràng là cơ thể của chúng ta không thể tạo ra hạnh phúc lâu bền.

Nhiều người nghĩ nếu một người không là một cơ thể, thì người đó là suy nghĩ và cảm xúc. Tuy nghiên, khi nhìn vào những cảm xúc đó, chúng cũng chỉ là tạm thời. Trước tiên, chúng ta cảm thấy tốt vì xuất hiện điều gì đó đẹp đẽ, rồi chúng ta thấy buồn chán hoặc cái gì đó xấu xí xuất hiện làm thay đổi cảm xúc của chúng ta. Hơn thế nữa, cảm xúc thay đổi nhanh hơn những biểu hiện của cơ thể. Trong cuộc đối thoại giữa Mephisto và Faust, Goethe nói rằng không gì thay đổi nhanh hơn những chuyển biến bên trong cơ thể con người. Bất cứ ai tin rằng bản thân mình là những chuyển biến bên trong mình sẽ bắt đầu nghi ngờ về điều đó. Một người thích thú khi anh ta hoặc cô ta đang có những cảm xúc tốt đẹp không biết đánh giá bản thân mình như thế nào khi có những cảm xúc xấu.

Do đó nếu chúng ta cố gắng tìm hiểu chúng ta thực sự là gì, kiểm tra xem những gì tồn tại chắc chắn mà không qua đi hoặc biến mất, tất cả chúng ta tìm thấy là sự tồn tại vô hạn của không gian. Chỉ có không gian là không lệ thuộc vào các điều kiện khác và tự nó tồn tại. Như đã đề cập, không gian này không phải là một lỗ đen mà rất phong phú, một thứ chứa đựng mọi thứ, trong đó mọi thứ diễn ra, nó kết nối tất cả. Không gian là sự trải nghiệm rằng một người là tâm thức; tâm thức đó trải nghiệm, tâm thức đó nhìn ngắm thông qua mắt của chúng ta và lắng nghe thông qua tai của chúng ta – không bị giới hạn bởi những gì được nhìn thấy hoặc nghe thấy.

Đây là ý nghĩa của những bài giảng của Đức Phật. Người muốn chúng sinh hữu tình hiểu rằng họ không là những con sóng mà là cả đại dương bên dưới, người chỉ vào tấm gương đằng sau những bức tranh. Nếu chúng ta có thể tự trải nghiệm như những tia sáng chúng ta có thể nhìn thấy, có thể biết và hiểu được, dòng chảy của những sự trải nghiệm mà chúng ta thấy, trải qua và hiểu được sẽ không đánh lừa được chúng ta. Đức Phật thực sự mong muốn hướng sự chú ý của nhân loại ra khỏi thế giới của những ấn tượng trôi qua và hướng tới tâm vô lượng và hoàn hảo, đó cũng chính là cái trải nghiệm mọi vật và là không gian không thể phá hủy được. Không ai tạo ra tâm và không ai có thể phá hủy tâm. Lòng dũng cảm xuất hiện từ sự hiểu biết này về những giá trị tuyệt đối của một người – không gian không thể phá hủy.

Những phương pháp thiền tập của Kim Cương Thừa sử dụng giai đoạn “xây dựng” và giai đoạn “xóa bỏ” để luyện tậm trải nghiệm này của tâm thức. Trong tâm thức một người, các vị Phật xuất hiện ngay trước họ dưới dạng năng lượng và ánh sáng. Các vị Phật ảnh hưởng đến những luồng năng lượng và những chuyển động bên trong cơ thể chúng ta. Những trải nghiệm trong quá trình này tăng lên vượt ngoài những khả năng của bản thể. Khi đang thiền định sự trải nghiệm này được đạt đến bằng việc dùng môt câu chú thì sự kết nối rung rộng thêm vào được xây dựng giữa một người và phật tín bên ngoài. Sau đó vị Phật này tan biến vào ánh sáng và hợp nhất với người đó một cách tự nhiên như là nước hòa vào nước hay ánh sáng chiếu sáng trong ánh sáng. Cuối cùng thì chỉ có sự tỉnh thức tồn tại như là không gian vượt ra ngoài chủ thể, vật thể và hành động. Đó là tâm thức hoàn toàn không có trung tâm hay giới hạn, không có ở đây hay ở đó. Duy trì thái độ và nhận thức này, những năng lực tự nhiên của tâm thức bắt đầu tự động bộc lộ. Ở giai đoạn này, chúng ta ở lại trong không gian và, không như những người Thiên Chúa Giáo, chúng ta không phán xét tốt hay xấu và, không như những người theo đạo Hindu, chúng ta cho phép những ý nghĩ đến và đi. Nếu thể tồn tại này trong không gian này không thể được giữ được lâu hơn, chúng ta để thế giới xuất hiện trở lại, thanh khiết, tươi sáng và mới mẻ. Cuối cùng thì những điều tốt xuất hiện qua sự thiền định được cho tất cả nhân loại.

Một trong những bài thiền định mà tôi dạy nhiều lần trong năm trên toàn cầu, thường thay đổi con người rất nhiều, gọi là Phowa – Sự tu tập của cái chết tỉnh thức. Naropa đưa bài thực hành vào vào Tây Tạng 950 năm trước và chỉ tồn tại ở ba pháp môn cổ xưa của Kim Cang Thừa. Trong cách tu tập này một người học cách kiểm soát quá trình cái chết xảy ra để có thể trải nghiệm sự tỉnh thức của một người ở trạng thái hạnh phúc cao nhất tại thời điểm của cái chết. Có ba loại dấu hiệu xuất hiện trong cách tu tập này. Đầu tiên là dấu hiệu vật lý, một sự vết mở ở đỉnh đầu, khoảng tám ngón tay tính từ đường chân tóc, không lớn, hơi giống một lỗ nhỏ hoặc có thể được xác định bằng một giọt máu nhỏ. Hầu hết những người thực hành trải nghiệm những khoảnh khắc hạnh phúc cao nhất và tự do hoàn toàn từ việc rời bỏ cơ thể họ trong một khoảng thời gian ngắn. Dấu hiệu thứ 2 là nhiều biểu hiện được lưu giữ trong tiềm thức xuất hiện và được xử lý. Điều này có thể xảy ra khi những luồng năng lượng trong cơ thể được làm sạch qua những cách thực hành có ảnh hưởng lớn này. Những nỗi sợ hãi và bất an xuất hiện trong tâm thức, nhưng sự trọn vẹn thực sự và niềm hạnh phúc lớn lao mới được khai mở còn mạnh mẽ hơn thế. Đó là những dấu hiệu của những sự nhận thức bên trong và bên ngoài. Dấu hiệu thứ ba đầy huyền bí là sự chắc chắn rằng nỗi sợ hãi biến mất hoàn toàn. Niềm tin rằng một người là cái gì đó không thể phá hủy tăng lên.

Hơn và hơn thế, một người nghĩ ngơi ngay tại chính trung tâm của mình và trở thành tâm đang trải nghiệm sự vật chứ không phải là những sự vật đang thay đổi và được trải nghiệm lên lục kia. Đó không là điều gì để chúng ta học – mọi người có thể học cách nói đúng câu chữ – nhưng rõ ràng rằng với cơ thể và lời nói của chúng ta, chúng ta có thể sử dụng nó để mang lại lợi ích cho những người khác. Bằng cách này sự trải nghiệm về Phật pháp quan trọng nhất phát triển: những sự trải nghiệm của tâm thức của một người. Chúng ta hiểu rằng chúng ta là cái gì đó nhìn qua mắt và nghe qua tai, là những trải nghiệm và nhận thức. Chúng ta nhận ra rằng thật vô ích khi bị kéo ra khỏi trung tâm của chúng ta bằng những thứ chúng ta nhìn và trải qua, những màn kịch của thế giới bên ngoài và bên trong. Bằng cách hành động một cách an toàn, một người có thể sử dụng thân thể và lời nó của mình để mang lại lợi ích cho người khác trong những hoàn cảnh luôn thay đổi, còn nhiều rối rắm và những trạng thái khác nhau của tâm thức. Mục đích tối cao là chúng ta có thể mang lại nhiều lợi ích cho chúng sinh từ cấp độ của niềm hạnh phúc không sợ hãi.

Phật dạy nhiều cách để đạt đến cấp độ. Một vài người thiếu dũng khí trước tiên cố gắng tránh những khó khăn và sợ thử thách. Những người đó thường trở thành thầy tu hoặc ni cô. Việc này đảm bảo an toàn cho cuộc sống của họ, họ không phải đối mặt với những khó khăn và họ có cảm giác được bảo vệ.

Những người khác muốn chinh phục thế giới. Như con tàu hơi nước, họ muốn để lại dấu ấn ở thế giới bên ngoài. Họ nói “hãy làm cho xã hội tốt hơn, hãy thực sự xây dựng một cái gì đó”. Cấp độ của hành động này ở thế giới bên ngoài là những cư sĩ. Trái ngược với những thầy tu hoặc ni cô, đối với những cư sĩ này, Phật không khuyên họ tránh những gì mà là làm những gì; những phương pháp làm phong phú cuộc sống và tạo ra nhiều điều hữu ích cho bản thân và những người khác.

Lời răn cao nhất của Phật tập trung ở quan điểm của chúng ta, cái gọi là cấp độ của những người đã chứng ngộ. Những người đã chứng ngộ trước đây được gọi là yogis, nhưng người ta thường liên hệ từ này với những người quấn khăn theo đạo Hindu. Trở thành một người chứng ngộ có nghĩa là đã thật sự đạt được tất cả những gì có thể. Và đó chủ yếu là cách nhìn nhận, trải nghiệm mọi thứ ở cấp độ cao nhất và thuần khiết nhất có thể. Một người hiểu rằng họ không cần phải chết để đi đến Tịnh độ, hoặc đi đến một nơi nào đó để gặp các vị Phật, mà những phẩm chất tốt đẹp đã tồn tại trong mỗi con người. Thấu hiểu rằng tâm thức của mỗi con người là ánh sáng trong lành, rằng thậm chí tâm thức của một con nhện chỉ nhìn xa được vài centimet vuông trên mạng nhện thì cũng là không gian trong lành, giải phóng mọi thứ. Một người có thể, trên hết, trải nghiệm mọi thứ như thể trở nên thanh khiết và mới mẻ; các nguyên tử dao động với niềm vui thích và được liên kết với nhau bằng tình yêu. Khi đó tâm thức có thể được mở ra, niềm hạnh phúc và sức mạnh đạt trạng thái ổn định.

Những gì xảy ra sau đó là sự tỉnh thức di chuyển từ những phản chiếu trong gương vào trong gương, từ những con sóng của đại dương vào trong đại dương, từ những trải nghiệm bên ngoài vào bên trong, đó là cách tâm thức trải nghiệm.

Một câu để tóm tắt bài nói chuyện tối nay của tôi là “hành động và nhận thức như một vị Phật cho đến khi thành Phật”.

Điều đó có nghĩa là chúng ta ủng cố quan điểm rằng chúng ta đã đang sống trong một vùng đất thanh khiết và mọi người đều là phật, những vị phật vẫn chưa khám phá ra rằng mọi thứ đã là một vùng đất thanh khiết. Chỉ cần làm sạch bụi trong mắt của chúng ta để khám phá rằng mọi thứ là biểu hiện của trí tuệ hoàn hảo, rằng tại đây và lúc này, luôn luôn và bất cứ đâu, những năng lực không giới hạn của không gian bộc lộ một cách vui tươi. Đúng là quan điểm này về hạnh phúc vĩnh cửu và tột đỉnh là hiển nhiên và những sự thiền định của Đạo Phật nhằm hướng đến sự trải nghiệm đó. Thậm chí, theo như suy nghĩ của nhiều thực tập sinh, Đức Phật đã mô tả trạng thái này của tâm thức như là “sự kết thúc của đau khổ” từ 2500 năm trước, về cơ bản thì trải nghiệm này có thể được so sánh với việc đặt những ngón tay của bạn vào ổ điện và trải nghiệm niềm hạnh phúc vô biên cùng lúc.

Có 3 dạng thiền định giúp đạt đến trạng thái này của tâm thức. Một là giữ cho tâm thức được tĩnh tại và tập trung. Giống như bề mặt của ly cà phê phản chiếu hoàn hảo mọi vật khi nó chưa được khuấy lên. Một cách khác là làm việc có động lực, khi lòng trắc ẩn và trí tuệ nuôi dưỡng sự thiền định. Cách thứ ba nhanh nhất là dùng năng lực, quan điểm cao nhất và lòng tin sâu sắc để mở ra mọi phẩm chất của tâm thức. Những kết quả của dạng thiền định thứ 3 này là trước tiên một người tập trung tâm thức vào một điểm, do tâm thức không cần thêm bất cứ gì từ bất cứ đâu. Rồi thì mọi thứ nhân tạo mất đi khi sự giàu có của những gì ngay trước mặt chúng ta vượt mọi ước muốn. Sau đó, một người trải nghiệm chính cái người trải nghiệm không thể bị lay chuyển trong tất cả mọi tình huống và cuối cùng nỗ lực tỉnh thức là không cần thiết nữa. Không có sự chia cắt giữa chủ thể, vật thể và hành động, một người làm những gì có lợi cho tất cả chúng sinh hữu tình trong dài hạn.

Để kết thúc, tôi muốn hướng chú ý của bạn đến một điểm có thể hữu ích cho cả những bác sĩ trị liệu lẫn các nhà tâm lý học: không có sự thật thông thường. Hầu hết thời gian, chúng ta nghĩ có cái gì đó thật ở giữa những giấc mơ màu hồng và vực thẳm đen tối. Một nơi như thế đến giờ vẫn chưa được tìm thấy. Nếu chúng ta đang tìm kiếm thứ gì đó thực sự và không thể phá hủy, đó chỉ có thể là một thứ: nơi mà mọi thứ đến với nhau, nơi mà hạnh phúc, tình yêu, quyền năng, sự can đảm, năng lượng, trí tuệ và sự hiểu biết sâu sắc bổ sung lẫn nhau.

Nói cách khác, cấp độ cao nhất của hoạt động là sự thật tối cao. Khi một người cảm thấy tốt hơn và sự vật vận động trôi chảy hơn, thì nhiều phần thú vị hơn trong tâm thức họ sẽ xuất hiện,  và chúng ta sẽ gần hơn trên con đường trở thành Phật. Sự khác biệt giữa Đức Phật và chúng ta là Đức Phật đã phát triển mọi phẩm chất của cơ thể, ngôn từ và tâm thức. Mọi người đều có thể làm tương tự như Ngài, như tôi đã nói ở trước, không có niềm vui nào lớn hơn trạng thái của Ngài.

 

 


More information:



Share: