Giáo viên

H.H. 16th Karmapa Rangjung Rigpe Dorje
H.H.17th Karmapa Trinlay Thaye Dorje
H.H. Shamar Rinpoche
Lopon Tsechu Rinpoche
Lama Ole Nydahl
Hannah Nydahl

16th Karmapa Rangjung Rigpe Dorje

16. Karmapa

Đức Karmapa thứ 16 Rangjung Rigpe Dorje (1924 -1981) sinh trưởng tại vùng Derge, thuộc phía Đông của Tây Tạng. Đức Karmapa thứ 15 Khakhyab Dorje (1871-1922)  trước khi viên tịch đã để lại một bức thư viết rõ về những điều kiện cho đời tái sinh kế tiếp của ngài. Dựa trên những thông tin trong lá thư này, những vị đứng đầu của tu viện Tsurphu đã thành công trong việc tìm ra vị tái sinh đó.

Năm 1931, Ngài được tấn phong ngôi vị Đức Karmapa đời thứ 16.

Ngày học tập tại tu viện Tsurphu trong bốn năm, chuyên sâu về các kinh, chú, Đại pháp ấn và Sáu pháp Du Già của Đại sư Naropa. Ngài đã thể hiện những hiểu biết trong tâm một cách tự nhiên và xuất sắc và thường kể với các thầy của ngài về những đời trước của mình. 

Năm 23 tuổi, Ngài nhận lễ thụ phong cuối cùng cùng với những quán đảnh và giải thích về những phương pháp tu tập cao nhất của dòng truyền thừa Karma Kagyu. Năm 1959, do tình hình chính sự tại Tây Tạng, Ngài quyết định dời khỏi quê hương. Cùng với 160 người: tăng, ni, phật tử, người dân, Karmapa rời khỏi tu viện Tsurphu, là tu viện chính của các đời Karmapa và tiến về Bhutan. Dưới sự hướng dẫn của Ngài, đoàn người đã mang theo những tượng phật, hình phật, thangkas, những đồ cúng và sách vở quan trọng nhất đã từng được bảo tồn tại  tu viện Tsurphu từ nhiều thế kỷ. 

Nhà cầm quyền của vùng Sikkim (Tây Nam Ấn Độ) đã tặng cho Karmapa tu viên Rumtek. Tu viện này được xây dựng từ thời Karmapa thứ 9 – Đức Wangchuk Dorje (1556 -1603). Karmapa đã thực hiện công tác xây dựng một tu viện mới tại Rumtek.  Với sự giúp đỡ nhiệt tình của chính phủ Ấn độ và nhà cầm quyền Sikkim, tu viện mới hoàn thành trong vòng bốn năm và trở thành nơi ở chính thức mới của Karmapa ở ngoài Tây Tạng và là một trung tâm cho việc học tập và thực hành Phật pháp. 

Năm 1974, Karmapa dẫn đầu 1 phái đoàn lạt ma đi sang phương Tây, thăm Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada. Đây là lần đầu tiên phương Tây có cơi hội tham dự vào lễ “Chiếc Mũ Đen” do Karmapa thực hiện. Được học trò của ngài là Ole and Hannah Nydahl mời, Karmapa đã tới thăm Copenhagen, Đan Mạch vào tháng 12 năm 1974. 

Tháng 11 năm 1976, Karmapa đã tới New York trong chuyến đi vòng quanh Hoa Kỳ và năm sau đó, ngài đã dành sáu tháng để đi vòng quanh Châu Âu. Trong chuyến đi này, ngài đã tới thăm Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Pháp và Anh Quốc. 

Tháng 5 năm 1980, Karmapa lại đi thăm phương Tây, dừng lại để hoằng pháp và làm lễ tại London, New York, San Francisco, và Boulder, Colorado. Đức Karmapa thứ 16th Gyalwa mất vào ngày 05/11/1981 tại một bệnh viện gần Chicago.

[top]

H.H.17th Karmapa Trinlay Thaye Dorje

17. Karmapa17. Karmapa

Vị Karmapa thứ 17 Gyalwa Karmapa Trinlay Thaye Dorje được sinh ra tại Tây Tạng vào 06/05/1983. Ngài là con đầu tiên của Vị Rinpoche đời thứ 3 – Mipham, một bậc thầy của dòng truyền thừa Nyingma, và Dechen Wangmo, con gái của một gia đình danh giá thuộc hoàng tộc vua Gesar xứ Ling. Vào lúc một tuổi rưỡi, ngài đã bắt đầu nói với mọi người rằng ngài chính là Karmapa. Năm 1994,  ngài và gia đình đã trốn thoát khoải Tây Tạng và chạy sang Nepal, sau đó, sang Ấn Độ. Ngài, khi đó còn rất trẻ đã tới New Delhi vào tháng 3 năm 1994 và thụ lễ tấn phong Karmapa do đức Shamar Rinpoche thực hiện. Karmapa đời thứ 17 có tên là Trinlay (các hoạt động của Phật) Thaye (vô lượng) Dorje (không thay đổi). 

Năm 1997, Karmapa thứ 17 được chính thức mời sang Bhutan để tham dự lễ của Topga Rinpoche. Ở đây, Ngài đã được tiếp đón long trọng nhất. Ba giờ lái xe từ biên giới Bhutan tới thủ đô Thimpu đã phải kéo dài thành bảy tiếng đồng hồ vì hàng ngàn người đứng chào đón hai bên đường. Vào 17/10/1997, ba ngàn người đã tới nhận phước và toàn bộ gia đình hoàng gia bao gồm cả đức vua và bốn vị hoàng hậu đã tiếp đón ngài như là đức Karmapa thứ 17. 

Tháng 10/1999, Karmapa thực hiện chuyến đi hoằng pháp quốc tế đầu tiên và đã thực hiện lễ quán đảnh cho hàng ngàn người tại Singpaore và Đà Loan. Một thiên niên kỷ mới đã khởi đầu cùng với chuyến đi thăm phương Tây của người. Tại Dusseldorf, Đức, Karmapa đã tiếp nhận sáu ngàn học trò từ hàng trăm trung tâm Kim Cương Thừa đến từ hơn ba mươi nước.

Mùa hè năm 2003, Ngài thực hiện chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên. Ngài đã thực hiện hàng loạt các lễ trao truyền và giảng dạy. Trong hai ngày 19 và 20/07/2003, người đã thực hiện trao truyền các phương pháp thực hành Karma Pakshi và Phật Dược Sư tại San Francisco, California. Sự kiện này được tổ chức bởi trung tâm Kim Cương Thừa Hoa Kỳ. 

Vào tháng 12/2003, sau khi hoàn tất chương trình hoằng pháp của mình, ngài đã được xem như là “Vị thầy Mật tong Vĩ đại” (theo tiếng Sanskrit – Vajracharya). Hiện tại, người sống tại Kalimpong, Ấn Độ. Ngài tiếp tục hoằng pháp tại đây.

Homepage H.H. Karmapa Trinlay Thaye Dorje

[top]

H.H. Shamar Rinpoche

Szamar Rinpocze

Là một hiện thân của đức phật A di đà – Kunzig Shamar Rinpoche là người có tầm quan trọng thứ hai, sau Gyalwa Karmapa trong dòng truyền thừa Karma Kagyu. Đức Shamar Rinpoche đầu tiên, Khedrup Trakpe Senge (1283-1349), là học trò của Karmapa đời thứ 3, Rangjung Dorje. Đời Sharmapa thứ 2 Kacho Wangpo, nhận chiếc mũ đỏ từ Karmapa đời thứ 4, Rolpe Dorje, như là một bản sao của chiếc mũ đen của Karmapa. Cùng với chiếc mũ đỏ, Karmapa đặt tên Sharmapa là “Shamarpa – Vị thầy có chiếc mũ đỏ.” Từ đó, các tài liệu của Karma Kagyu tnói về hai Karmapas, mũ đen và mũ đỏ, luôn thay phiên làm thầy và đệ tử của nhau trong nhiều thế kỷ và tâm của họ được xem như không thể tách rời. 

Đức Sharmapa thứ 14 – Kunzig Shamar Rinpoche Mipam Chokyi Lodro sinh vào năm 1952 tại Derge, Tây Tạng, là cháu họ của Đức Karmapa thứ 16. Ngài được nhìn nhận là tái sinh của Shamarpa khi lên 6 tuổi và được đưa tới tu viện Yang Chen Monastery, là tu viện chính của các đời Shamarpa ở Tây Tạng. Lên 9 tuổi, ngài cùng với Karmapa tới Sikkim, Ấn Độ. Ở đây, ngài tiếp tục sống và học tập theo sự hướng dẫn của Karmapa. 

Kunzig Shamar Rinpoche đã nhận toàn bộ các phương pháp và truyền dẫn của dòng truyền thừa Karma Kagyu từ Karmapa thứ 16 tại tu viện Rumtek, Sikkim. Sauk hi Karmapa viên tịch, Shamar Rinpoche tiếp tục dự án xây dựng học viện phật học quốc tế Karmapa (Karmapa International Buddhist Institute – KIBI) tại New Delhi, Ấn độ. Tháng 3/1994, Ngài chính thức thừa nhận Trinlay Thaye Dorje là vị Gyalwa Karmapa đời thứ 17.  Shamar Rinpoche dành phần lớn thời gian của mình để truyền giảng các pháp của Phật tới đệ tử trên toàn thế giới. 

Homepage H.H. Shamar Rinpoche

[top]

Lopon Tsechu Rinpoche

Lopon Czeczu RinpoczeLopon Tsechu Rinpoche sinh ra ở Bhutan vào năm 1918. Lên 13 tuổi, ngài rời Bhutan để đi học và thực hành theo sự hướng dẫn của chú ngài Lama Sherab Dorje tại Nepal. Tại đây, ngài nhận toàn bộ sự thực tập theo Phật pháp và thực hành thiền định dưới những điều kiện khắc nghiệt trong các hang động của Milarepa và tại những nơi thiêng liêng của Đức Liên Hoa Sanh – Guru Rinpoche. Năm 1944, Ngài gặp đức Karmapa thứ 16 và trở thành một trong những vị thầy quan trọng nhất của Karmapa. Trong những năm tiếp theo đó, Lopon Tsechu Rinpoche trở thành một biểu tượng tiêu biểu cho những người thực hành phật pháp tại Nepal. Năm 1987, ngài tới thăm Châu Âu lần đầu tiên theo lời mời của hai đệ tử là Lama Ole Nydahl và vợ Hannah. Từ đó, ngài đi thăm toàn châu Âu, Châu Mỹ và Úc, hoằng pháp và thực hiện vô số các lễ quán đảnh. Ngài đã hoàn tất việc xây dựng tháp Kalachakra Stupa tại Tây Ban Nha và hơn 16 tháp khác tại Châu Âu và Châu Á. Dự án cuối cùng của Lopon Tchechu Rinpoche, Tháp Giác Ngộ (Enlightenment Stupa) ở Benalmadena, Tây Ban Nha là đỉnh cao trong cuộc đời ngài. Rinpoche mất vào 10/06/2003 tại tuổi 85, bốn tháng trước lễ khánh thành của dự án này. Năng lực của lòng từ bi của ngài vẫn còn được cảm nhận bởi mọi người và vẫn tiếp tục mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.

[top]

Lama Ole Nydahl

Lama Ole Nydahl

Lama Ole Nydahl là một trong những học trò Tây Phương có đầy đủ phẩm chất như là một lạt ma và một vị thầy hướng dẫn thiền định của dòng truyền thừa Karma Kagyu. Năm 1969, Ole Nydahl và vợ Hannah trở thành những học trò tây phương đầu tiên của đức Gyalwa Karmapa thứ 16. Sau khi hoàn tất 3 năm học về triết học Phật giáo và tập huấn thực hành thiền định – bao gồm cả một phương pháp đặc biệt của Kim Cương Thừa gọi là: Cái chết có ý thức (theo tiếng Tây Tạng là Phowa) – Ole Nydahl bắt đầu giảng dạy về Phật giáo tại Châu Âu theo yêu cầu của Karmapa thứ 16. Từ đó, Lama Ole thực hiện việc hoằng pháp và trao truyền những phước lành của dòng truyền thừa này tới những thành phố khác nhau mỗi ngày, đi hoằng pháp trên toàn thế giới. Những kiến thức sâu sắc và các phương pháp giảng dạy thay đổi liên tục đã truyền cảm hứng cho hàng ngàn người tới tham dự những buổi hoằng pháp và hướng dẫn thiền tập của ngài. 

Thách thức những ý tưởng của con người về cuộc đời và phật pháp là một cách thức không chính thức, Lama Ole đã trở thành một nguồn lực chính đưa Phật pháp tới phương Tây và cho tới nay, đã hình thành hơn 640 trung tâm Kim Cương Thừa trên 44 nước. Cách thức kết hợp đặc biệt giữa phong cách hiện đại với trí tuệ của ngàn xưa của Ngài đã giúp tạo thành một số lượng lớn các học trò thực hành theo phương pháp Kim Cương Thừa tại phương Tây. Shamar Rinpoche đã từng nói: “Năm 1973, Đức Karmapa thứ 16 đã yêu cầu Ole và Hannah dạy và đã tiên đoán rằng họ sẽ trở nên rất thành công trong việc truyền bá những pháp của Phật tại Tây phương. Họ đã giữ các giới nguyện của họ mà không có bất kỳ một sự nghi ngờ nào, đã nghe theo và hoàn thành ước nguyện của Karmapa. Ole đang thực hành các hoạt động của Đức Karmapa thứ 16”. 

Lama Ole là tác giả của một số sách bao gồm: Theo chân đạo sư Tây Tạng (tên tiếng Anh là: Entering the Diamond Way); The Way Things Are; Mahamudra; Riding the Tiger (all from Blue Dolphin Publishing, USA); and The Great Seal (Fire Wheel Publishing, USA).

(Books).

Homepage Lama Ole Nydahl

[top]

Hannah Nydahl

Hannah NydahlTháng 2/1969: Hannah Nydahl và chồng – Ole đã trở thành những đệ tử Tây phương đầu tiên của Đức Karmapa thứ 16. Trong hơn 30 năm, Hannah đã phiên dịch cho rất nhiều các bậc thầy cao nhất của dòng Karma Kagyu cũng như dịch rất nhiều tài liệu về triết học phật giáo Tây Tạng. 

[top]