VƯỢT THOÁT KHỎI SỰ SỐNG VÀ CÁI CHẾT

Lạt Ma Ole NydahlKhi một người nghe từ “Bardo” trong tiếng Tây Tạng, suy nghĩ đầu tiên chính là “Thân trung ấm” – Khoảng thời gian sau khi chết. Tuy nhiên, từ này có nghĩa là bất kỳ trạng thái trung gian nào. Mỗi cá nhân trải qua những trạng thái nhỏ trong suốt đời sống của họ cho tới khi họ đạt tới giác ngộ – khi mà tâm nhận ra ánh sáng trong vô lượng của chính nó.

Ngay tại thời điểm này đây, chúng ta đang ở trong trạng thái “thức tỉnh” (nếu mà tôi chưa làm cho các bạn ngủ gật). Chúng ta truyền thông với nhau bằng ngôn từ và các hình tượng của các nền văn hóa khác nhau và ít hay nhiều, nhận thức cùng một thế giới thông qua các giác quan của mình. Ban đêm, chúng ta đi vào trạng thái ngủ – trạng thái của bóng đêm và sự thiếu ý thức. Những ai đã may mắn biết thiền tập “Ánh sáng trong”, có thể trải qua kinh nghiệm khác, giống như là đang nghỉ ngơi trong một đại dương của ánh sáng.

Cũng có những trạng thái khi mà những ấn tượng được ghi lại trên bề mặt tiềm thức của một người theo những cách khác nhau, ví dụ như khi đang mơ. Cái này được gọi là trạng thái của mơ và có thể bao gồm cả các trạng thái do các chất kích thích tạo ra. Sau đó, một người có thể chuyển sang thức hoặc ngủ.

Bản chất của những trạng thái tinh thần được nêu trên là có điều kiện và luôn thay đổi của chúng, và không có bất kỳ phẩm chất lâu dài nào. Khi còn sống, con người và loài vật di chuyển qua lại giữa ba bados của: thức tỉnh, ngủ và mơ. Khi chết, ba bardo còn lại sẽ trỗi lên.

Đầu tiên là tiến trình “chết” và các nguồn năng lượng tập trung vào trung tâm của cơ thể của một người. Bất kể là tiến trình này nhanh hay chậm, nó là một sự chuyển biến có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Sau ba ngày mất ý thức, một trạng thái tiếp theo sẽ đến khi tâm tiếp tục thói quen của nó từ đời trước. Trong hai tuần sau đó, sự nhận thức rằng một người đã chết nổi lên rõ rệt hơn bao giờ hết. Nhận thức này chín muồi khi đạt tới khoảng 20 ngày cuối của bảy tuần đó[1]. Những ai không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào từ bên ngoài sẽ nhìn thấy các điều kiện tinh thần nổi trội của họ đúc kết lại, đưa họ vào một trong sáu ngả tái sinh.

Theo cách nhìn “không có điểm khởi đầu”, tiến trình này là vô tận. Tâm cũng đồng thời không có điểm khởi đầu. Thế giới bên ngoài và những trải nghiệm bên trong liên tục được mở ra. Chúng thể hiện sự phong phú vô tận của tâm theo vô số cách. Do đó, các bardo luôn thay đổi lẫn nhau, thể hiện những dòng chảy vô tận của tâm theo luật nhân quả. Ở đây, chủ thể là các sự kiện xoay xung quanh sự sống và cái chết, được nhìn thấy chủ yếu từ  ba trường chính thống hoặc còn gọi là các trường phật học Tây Tạng mũ đỏ. Cách nhìn này khác biệt so với thế giới và bao hàm những phân tích của cả những khía cạnh tuyệt đối và tương đối của tâm. Nhận thức quan trọng nhất là: bản chất của tâm  chính là khoảng không, tâm không có màu sắc, trọng lượng, mùi vị hoặc kích cỡ. Tâm không được làm ra từ bất cứ vật liệu gì, không được sinh ra và không thể chết. Vì nó không từ đâu đến, do đó, nó cũng không đi về đâu.

Tuy nhiên, khoảng trống này cũng không phải là một hố đen. Nó không bao hàm sự biến mất hoặc không tồn tại. Bản chất của nó rất phong phú. Nó diễn trò, tự thể hiện, mơ mộng, để cho mọi chuyện diễn ra và sau đó lại biến mất. Nó có tiềm năng to lớn và cũng đồng thời không có giới hạn. Bất kỳ điều gì mà ta xem xét đều không có điểm kết thúc – những thứ khác hơn nữa luôn có thể xảy ra. Nhận thức này mang tới cho chúng ta hạnh phúc. Không có bất kỳ cảm xúc có điều kiện nào có thể so sánh. Và tâm từ bi không sợ hãi, luôn hạnh phúc, linh hoạt, không ủy mị và có ảnh hưởng sâu rộng xuất hiện một cách tự nhiên từ đó.

Nếu điều này trở thành một trạng thái liên tục – luôn ý thức được tâm mình – chết và tái sinh sẽ giống như là một sự thay đổi quần áo nhiều thú vị, vì chỉ đơn giản là chúng thể hiện những tiềm năng của tâm. Ánh sáng trong lành của tâm, nhận thức rạng rỡ của tâm và hạnh phúc và năng lượng của hoạt động của tâm sẽ không bao giờ ngưng tạo ra những ấn tượng. Không có bất kỳ một sự tan vỡ nào của tâm thức, và tận dụng những cơ thể và lời nói như là những công cụ vì lợi ích cho người khác, một cách hoàn toàn tự do, chúng ta sẽ chọn tái sinh tại những nơi hữu dụng nhất cho tất cả.

Tuy nhiên, điều này khác xa so với những kinh nghiệm hàng ngày của mọi người. Bất kỳ ai không thiền định sẽ ít khi nào thoáng nhận thấy được chân tâm. Trong trường hợp này, nó thường xảy ra một cách ngẫu nghiên, giống như là khi lái xe cua nhanh trên đường hoặc trong khi rơi tự do trong trò chơi nhảy dù. Bất cứ ai thiền định tốt trong những đời sống trước, có thể trải nghiệm những trạng thái khi tìm kiếm an lạc nội tâm, khi những trạng thái đã biến đổi về phương diện hóa học có thể chỉ ra một cánh cửa nhưng không thể đưa người đó vào bên trong. Nếu sự trong sáng của tâm thể hiện thông qua một quá trình liên tục của sự phát triển hoặc một cách vô tình, bản chất của nó là điều chắc chắn tuyệt đối và niềm an lạc sâu sắc biểu hiện khi một người ở ngay tại đây, vào lúc này. Khi một người quên đi nỗi sợ hãi hoặc những mong ước, tâm sẽ hiện lộ một tình yêu đơn thuần, ít có định kiến.

Những chúng sinh chưa giác ngộ được xem như là một với những ấn tượng của dòng chảy của tâm ý và tìm kiếm đặc tính căn bản vĩnh cửu trong dòng chảy luôn thay đổi của tâm ý và cảm xúc – đó cũng chính là những hoạt động của chính tâm họ. Mặc dù những kinh nghiệm có thể mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục, những tình huống và cảm xúc có điều kiện không thể tồn tại lâu. Tuy nhiên, tại một mức độ tương đối, bản chất của chúng giống như một dòng sông: dù nước chảy liên tục, có một sự tiếp nối và con người xem mình là một với dòng chảy của nhận thức của họ. Có một mối quan hệ giữa một đứa trẻ lên bảy và một người bảy mươi mà đứa trẻ đó có thể trở thành. Nếu không có đứa trẻ, sẽ không có người trưởng thành kia, cho dù tất cả các tế bào và phân tử đều là mới. Tại một điểm cụ thể, khi các điều kiện cần thiết cho một cơ thể hoạt động sụp đổ, chúng ta đối mặt với một quá trình được gọi là “cái chết”.

Nhìn từ bên ngoài, cái chết rất khác biệt, tùy thuộc vào một người chết từ từ vì bệnh AIDS hoặc ung thư, hoặc nếu một cơ thể ngưng kết nối một cách đột ngột do bị bom nổ tung hay gặp một tai nạn trên đường cao tốc. Tuy nhiên, quá trình diễn tiến của cái chết là giống nhau. Bất kể là nó diễn ra trong nháy mắt hay là trong quá trình lâu dài, nguồn năng lượng thường được lan tỏa khắp cơ thể chuyển động về trục trung tâm của nó.

Trong những kinh nghiệm của những tôn giáo của miền Viễn Đông, nhận thức và năng lượng được xem như là hoàn toàn độc lập. Do đó, cơ thể được xem như là một hệ thống năng lượng, những giá trị của chúng thay đổi tùy theo mục tiêu. Một người Hindu tìm kiếm ý chí shakti, hướng tới trạng thái của một vị thần không có hình tướng. Một người theo đạo Lão hướng tới một đời sống cân bằng trong dài hạn và một Phật tử mong ước được trải nghiệm ánh sáng trong lành của tâm. Trong Hindu giáo, một người tập trung vào năng lượng thần kinh trong cột sống. Trong đạo Lão, một người thở theo hình elip, hít vào phía trước của cơ thể và thở ra phía sau của cơ thể.

Theo cách nhìn của Phật giáo, trục trung tâm trong một cơ thể người nằm bắt đầu từ điểm cách đường chân tóc tám ngón tay về phía sau trên đầu và kéo dài tới điểm khoảng 4 ngón tay dưới rốn. Từ cái “ống” năng lượng chính này, năm luân xa năng lượng tỏa ra trong đầu, cổ họng, trái tim, rốn và các trung tâm sinh dục của một người. Chúng tạo ra 72.000 nhánh năng lượng tỏa đi khắp cơ thể. Chúng có đặc tính nữ. Chúng là trực giác và không gian. Trong chúng luôn hàm chứa năng lượng nam. Nguồn năng lượng này được đánh thức từ từ và trở thành lòng từ bi và an lạc trên con đường mà một người đi tới giác ngộ.

Trong quá trình chết, nhận thức tập trung về trung tâm của cơ thể, và sau đó, năm luân xa năng lượng tan rã vào kênh năng lượng trung tâm. Vì chúng biến mất, chúng ta trước tiên cảm thấy mất năng lực của một cơ thể vững chắc. Chúng ta cảm thấy bị áp lực và các ấn tượng của các giác quan trở nên không rõ ràng. Sau đó, chúng ta mất kiểm soát về yếu tố chất lưu. Chúng ta cảm thấy  như đang trôi trên mặt nước và nước chảy ra từ miệng và mũi. Sau đó, chúng ta cảm thấy khô, và lạnh từ tứ chi. Do cái chế tới gần hơn, hơi thở của chúng ta trở nên nông và khó chịu; và nếu chúng ta chưa từng thiền tập, chúng ta mất dần khả năng tập trung tư tưởng. Tùy thuộc vào những nghiệp cá nhân, những ấn tượng mà chúng ta đã tiếp nhận trong cuộc sống có thể hiện lên thành bất cứ cái gì giữa những trạng thái tươi đẹp nhất cho tới những trạng thái mất mát lớn lao nhất, cùng với nỗi sợ hãi và thất vọng. Cuối cùng, một người sẽ thở ba hơi dài và chết.

Do sự trao đổi chất dừng lại tại điểm này, trong suốt hai mươi – ba mươi phút, một quá trình chuyển hóa năng lượng tiếp tục xảy ra bên trong trục chính của cơ thể. Kênh năng lượng trung tâm được tạo ra khi tâm thức của một người gặp tinh trùng và trứng của cha mẹ họ. Hai tế bào, những thông tin về gen di truyền đã cung cấp những nền tảng căn bản nhất cho cơ thể hiện tại, mỗi tế bào mang một nguồn năng lượng. Trong thiền định, tinh chất nam được trải nghiệm như là màu trắng và nữ như là màu đỏ. Do có hàng tỉ tế bào trong cơ thể chúng ta, nguồn năng lượng trắng di chuyển lên trên và tập trung vào khoảng tám ngón tay dưới đường chân tóc trên đỉnh đầu chúng ta. Vào cùng thời điểm này, nguồn năng lượng đỏ di chuyển xuống dưới và tập trung vào vị trí bốn ngón tay dưới rốn, chính giữa cơ thể. Giữa hai cột này là một trục với năm luân xa. Các luân xa và kênh khác lan toả ra từ đây.

Trong khoảng mười tới mười lăm phút sau khi ngưng thở, nguồn năng lượng trắng mất dần vị trí trên đỉnh đầu và di chuyển xuống tim. Trong khi nó đi xuống, một luồng sáng trong giống như ánh trăng được trải nghiệm trong khi ba mươi ba cảm giác xuất phát từ sự giận dữ biến mất. Nhiều người nghe thấy âm thanh của từ HUNG và trí nhớ của một người trở nên nhạy cảm tới mức họ có thể gặp những người đã chết rất lâu trước đó. Trong khoảng mười tới mười lăm phút sau đó, luồng ánh sáng đỏ nổi lên từ điểm khoảng bốn ngón tay dưới rốn. Cảm xúc rất mạnh mẽ và chúng ta trải nghiệm một ánh sáng giống như là hoàng hôn đỏ rực vậy. Trong khi luồng sáng này di chuyển về tim, âm thanh của từ Ah có thể được nghe thấy. Bốn mươi thọ cảm của bám víu biến mất tại thời điểm này và chúng ta cảm thấy an lạc vô bờ bến.

Hai mươi tới ba mươi phút sau cái chết, nguồn năng lượng trên và dưới chạy về trung tâm của ngực, tại khu vực tim, và mọi thứ trở thành một màu đen. Khi điều này xảy ra, bảy lớp màn bắt nguồn từ sự vô minh của tâm biến mất. Ngay sau đó, luồng sáng tràn ngập mọi phía và hơn cả nhận thức của con người xuất hiện, và, nếu chúng ta có thể duy trì được trạng thái này, tâm trải nghiệm sự không phân biệt giữa sự thật bên trong và bên ngoài. Bản chất rộng mở, trong sáng và vô hạn của tâm tỏa ra tất cả các phía và mọi phương thời gian, một mức độ nhận thức được biểu lộ như là sự tôn kính mà mọi người dành cho Karmapa thứ 16 khi người qua đời vào tháng 11 và 12 năm 1981. (Xem Riding the Tiger by Ole Nydahl, Blue Dolphin Press, Grass Valley, CA, pages 178-214.) Điều kiện này thường được so sánh với cuộc gặp gỡ của đứa con với mẹ nó, và bất cứ ai có thể duy trì luồng sáng này sẽ trải nghiệm nhận thức vô hạn và niềm an lạc cao nhất của giác ngộ. Tất cả những sự phân chia giữa không gian và năng lượng, đây và kia, quá khứ – hiện tại – tương lai trở nên lùi ra xa.

Phần lớn mọi người không thể duy trì mức độ này của sự toàn vẹn bởi vì họ đã không luyện tập tâm họ trước đó, để tâm họ trở nên “chuẩn” một cách sáng suốt hay nói khác đi là làm mờ đi nhận thức của họ. Sau đó, họ mất nhận thức. Tử thư Tây Tạng nói tới một giai đoạn ba hoặc bốn ngày mất nhận thức sau khi chết. Tuy nhiên, trong những trường hợp mà người chết đến với tôi,  dù thân thể họ trong suốt nhưng có vẻ giống như là họ ghé thăm mọi người như thể họ vẫn thường làm như thế (Xem Riding the Tiger của Ole Nydahl, Blue Dolphin Press, Grass Valley, CA, page 271). Điều này thường xảy ra sau khoảng sáu mươi tám giờ đồng hồ sau khi chết. Tôi nghĩ điều này là bởi vì họ là những người có văn hóa với những quá trình chuyển biến tâm thức nhanh chóng.

Khi tâm có nhận thức trở lại sau sự mất nhận thức, tâm có cảm giác là một điều gì đó bị sai một cách căn bản. Thậm chí khi thân nằm đó, nguyên vẹn, một người vẫn tránh nhìn vào nó và cố gắng bỏ đi. Giai đoạn này là bối rối nhất bởi vì do thiếu trạng thái là một cái gì đó như là một hình thể cụ thể, chúng ta xuất hiện ở bất cứ nơi nào mà chúng ta nghĩ tới. Trí thông minh của chúng ta trở nên nhạy bén hơn sau khi chúng ta chết. Chúng ta “nghe” thấy bất cứ điều gì mà một thực thể sống nghĩ như thể là họ đang nói về điều đó. Điều này có thể mang tới nhiều ngạc nhiên, nhưng chúng ta không thể nói chuyện với họ. Khi ngồi trên ghế, một người có thể ngồi lên chúng ta, và khi chúng ta cố gắng nói chuyện với họ, họ bỏ đi chỗ khác. Bỏ mặc những biểu hiện này, đặc biệt là những người chết bất ngờ, chúng ta từ chối nhận thức rằng chúng ta đã chết.

Một tuần tiếp theo sau ba ngày mất ý thức, chúng ta vẫn trải nghiệp thế giới của những thói quen của đời sống trước đó. Tuy nhiên, sau đó, chúng ta không thể không nhận ra rằng chúng ta không còn thân thể nữa. Điều này có thể gây ra sợ hãi khi chúng ta đứng trước gương và không nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình. Chúng ta phát hiện ra khi đi trên cát, chúng ta không để lại những dấu chân hoặc chúng ta có thể cho tay mình vào nước sôi mà không bị phỏng.

Nhận thức rằng: “Tôi đã chết. Tôi không còn có một cơ thể nữa” thật sự là một cú sốc lớn khiến cho một người rơi vào trạng thái vô thức lần thứ hai. Sau đó, tâm thức tỉnh trở lại, vào khoảng ngày thứ mười. Trong suốt hai tuần tiếp theo, chương trình tâm thức theo thói quen của một người đan xen vào với những ấn tượng trong tiềm thức có từ đời sống trước. Quá trình này diễn ra cho tới khoảng ngày thứ hai mươi lăm. Sau đó, khuynh hướng mạnh nhất trở thành chủ đạo và nếu không có sự giúp đỡ của một vị thầy hoặc thói quen thiền định từ đời sống trước, trong vòng bảy tuần sau khi chết, sự tồn tại mới của một người sẽ được thiết lập. Điều làm cho việc bẻ gãy chuỗi vận hành này trở thành một việc có ý nghĩa quan trọng chính là bất kỳ một trạng thái có điều kiện nào – một sự tồn tại mới nào đều hàm chứa sự đau khổ. Trạng thái này thấp hơn rất nhiều so với hoàn cảnh giải thoát khỏi cảm xúc và nó thậm chí không thể chạm tới được trạng thái giác ngộ, không có vô minh. Do về căn bản, tâm là khoảng không và luôn thay đổi, dẫn tới những thế giới bên trong của sự trải nghiệm và những thế giới bên ngoài của những hiện tượng, hiểu biết về những điều kiện tại chỗ làm giúp một người đưa bản thân mình và những người khác tới một cấp độ mới của hoạt động tối đa.

Ở đây, có một cái nhìn tổng quan về sáu thế giới tâm lý của sự tồn tại được trải nghiệm như là kết quả của những nghiệp của một người tại thời điểm sinh ra.

Mặc dù thế giới của con người, dưới sự điều khiển của dục vọng, đưa tới nhiều kết quả khác nhau từ những tác động của nghiệp, từ những người chịu đau khổ tại những nước nghèo đói cho tới những vùng ngoại ô giàu có sang trọng ở những nước phát triển; năng lượng của những trạng thái được trải nghiệm yếu dần qua những ấn tượng của những giác quan của một người. Những trải nghiệm của loài vật, cũng theo cách đó, được kiềm chế, trong khi bốn cõi sống không phải là người có thể xuất hiện từ những khuynh hướng được tích chứa trong tâm trải nghiệm những hạnh phúc và đau khổ một cách mãnh liệt hơn.

Ba mức độ tồn tại được biểu hiện từ sự kiêu hãnh chủ đạo. Những hành động tốt ồ ạt kết hợp với năng lực của ý thức trừu tượng mang tới bốn cõi trời được gọi là không có hình tướng. Kết hợp với những sự nhạy cảm có khiếu thẩm mỹ, chúng tạo nên mười bảy cõi tái sinh được gọi là có hình tướng, và cùng với dục vọng, chúng trở thành sáu trạng thái bị những ái dục chi phối. Chỉ khi đi liền với sự hiểu biết của vô ngã, các hành động tốt mới có tác dụng giải thoát. Nếu không, những tác động tốt của chúng mất đi, và những hoàn cảnh ít dễ chịu hơn về mặt tâm lý sẽ xuất hiện.

Nếu lòng ghen tỵ thể hiện như là một cảm xúc chính của con người, họ có thể tìm thấy chính mình trong các phòng chứa vũ khí. Trong các thời kỳ trước, họ có thể tìm kiếm hoặc xiên, nhưng ngày nay, thường là súng máy. Bom để tự vẫn có thể tìm thấy trong những tầng hầm. Những chúng sinh này có những cảm xúc phức tạp nghiêm trọng và thường cảm thấy rất bực tức khi những người khác tận hưởng nhiều hạnh phúc hơn họ.

Nếu sự bối rối trở thành cảm xúc mạnh mẽ nhất, tâm có thể cố gắng che dấu giữa những bụi rậm hoặc những hòn đá tảng. Nếu các loài động vật tới đây để truyền giống, một người có thể nhầm lẫn và đi theo. Sau đó, người đó sẽ kết thúc bằng cách có bốn chân và một bộ lông tuyệt đẹp cho cả mùa hè lẫn mùa đông.

Nếu lòng tham là cảm xúc mạnh mẽ nhất, thì ngay trong chính đời sống này, nó cũng đã làm cho chúng sinh khốn khổ. Con người càng có nhiều tài sản thì họ càng bị giam cầm. Sau khi chết, sự thất vọng chung này cô đọng lại thành sự thèm khát mãnh liệt đối với đồ ăn và thức uống. Một số, sau đó, trải nghiệm rằng bụng của họ trở nên to lớn như những thành phố trong khi miệng của họ thì bé như cái lỗ xỏ chỉ trên cây kim. Một số khác có thể cảm thấy thức ăn trở nên nóng như lửa hoặc những con quỷ giật mất đồ ăn của họ.

Tuy nhiên, chất ô nhiễm nhất của tâm là lòng căn thù, giận dữ và những nguyện vọng xấu. Nếu không được làm sạch, những cảm xúc này sẽ phát triển giống như bệnh hoang tưởng vậy. Những tài liệu cổ xưa phân biệt tám cấp độ khác nhau của đau khổ bắt nguồn từ nóng và tám cấp độ bắt nguồn từ lạnh. Chúng ta không nên rơi vào những cấp độ này! Thêm vào đó, có những trạng thái “thỉnh thoảng” hoặc “kề cận”. Hai loại này cũng xuất hiện trong cõi người như là trải nghiệm và chịu đựng những nỗi đau đớn to lớn.

Như đã nói ở trên, sự thèm khát dẫn tới cõi người hiện tại. Một cách liên tục và mạnh mẽ, chúng tác động vào cõi này. Nghiệp cũng đồng thời diễn ra và có nhiều tác động trên nhiều phương diện. Nó đưa tới những cõi tái sinh của chúng sinh. Nó cũng đồng thời xác định loại cơ thể mà một người sẽ có, môi trường mà người đó sinh ra và động lực đưa tới những hành động hướng người đó tới những sự tồn tại tiếp theo.

Chúng ta có sự kiểm soát ngay trong tay mình. Với khả năng hình dung ra những trạng thái trung gian, giác ngộ và giải thoát là hoàn toàn có thể đối với con người. Thêm vào đó, cho tới khi năng lực trừu tượng của tâm khởi lên, một người có thể làm việc một cách khéo léo trên một bình diện chung. Thông qua những hành động mang lại lợi ích và tránh gây hại, một người có thể truyền cảm hứng cho những người khác trải nghiệm và chia sẽ hạnh phúc vĩnh cửu tột đỉnh vốn có trong tâm.

Thậm chí con người có bốn vấn đề căn bản là: sinh – lão – bệnh – tử để vượt lên. Những năm tháng tốt đẹp nhất của một đời người được tiêu biểu bằng những khó khăn phải trải qua để đạt được những gì mình muốn và tránh những gì mình không muốn, giữ lấy những gì đã có và đối mặt với những gì không thể tránh được. Vòng tròn luân hồi này đã bắt đầu từ vô thỉ và quan trọng nhất là chúng ta tìm ra những giá trị vĩnh cửu.

Tất cả những phương pháp thiền tập của Kim Cương Thừa có mục tiêu làm cho nhận thức trong sáng được biểu hiện tại hiện tại. Nếu chúng ta thiền tập, chúng ta có thể đi vào một trạng thái mà tại đó, ánh sáng trong suốt là trung tâm, nhận thức độc lập với tất cả mọi thứ, vượt thoát khỏi sinh – tử, không có đến và cũng không có đi. Nếu chúng ta tận dụng cơ hội quý báu của chúng ta, những trạng thái trung gian sau khi chết có thể trở thành cánh cổng đưa chúng ta tới giác ngộ. Chúng mang tới cho chúng ta cơ hội tốt nhất để đối diện với tâm và bản chất chân thực của nó và giải thoát nó.

[1] Nghĩa là khoảng từ ngày thứ 29 tới ngày thứ 49 sau khi chết.

 


More information:



Share: